Tình hình thị trường chăn nuôi Việt Nam tháng 05-2019

Theo tổng hợp báo cáo của Bộ NN&PTNT chăn nuôi trâu, bò trong tháng không có biến động lớn. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số trâu của cả nước tháng 5/2019 giảm 3,2%; tổng số bò tăng 2,9% so với cùng thời điểm năm 2018. Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn đang trong thời kỳ gặp rất nhiều khó khăn do bệnh dịch tả lợn châu Phi có chiều hướng lây lan trên diện rộng.

Theo tổng hợp báo cáo của Bộ NN&PTNT chăn nuôi trâu, bò trong tháng không có biến động lớn. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số trâu của cả nước tháng 5/2019 giảm 3,2%; tổng số bò tăng 2,9% so với cùng thời điểm năm 2018. Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn đang trong thời kỳ gặp rất nhiều khó khăn do bệnh dịch tả lợn châu Phi có chiều hướng lây lan trên diện rộng.
Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số lợn của cả nước tháng 5/2019 giảm 5,5% so với cùng thời điểm năm 2018. Chăn nuôi gia cầm: Do tình hình dịch bệnh ở lợn nên người dân đang chuyển sang sử dụng thịt gia cầm và các loại trứng nhiều hơn. Tính đến thời điểm hiện tại, đàn gia cầm cả nước phát triển tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra, giá bán thịt gia cầm ở mức tốt, người chăn nuôi có lãi ổn định nên yên tâm đầu tư, tăng quy mô, chăm sóc đàn vật nuôi.
Theo báo cáo của TCTK, tổng số gia cầm cả nước tháng 5/2019 tăng 7,1% so với cùng thời điểm năm 2018.
Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi ước đạt 255 triệu USD, tăng 4%.

DỊCH BỆNH: 
Dịch cúm gia cầm:
Trong tháng 5/2019, các ổ dịch CGC tại 02 tỉnh Đắk Lắk và Kon Tum đã qua 21 ngày, không có gia cầm mắc mới, tuy nhiên đã có 03 ổ dịch cúm A/H5N1 xảy ra tại tỉnh Hậu Giang và Vĩnh Long, cụ thể: Hậu Giang: Ngày 04/5/2019, dịch CGC đã xảy ra tại 02 hộ nuôi gà tại Khu vực 1, phường Lái Thiêu, thị xã Ngã Bảy. Toàn bộ 1.120 con gà tại 02 hộ bị dịch này đã bị tiêu hủy vào ngày 13/5/2019. Vĩnh Long: Ngày 01/5/2019, dịch CGC đã xảy ra tại 01 hộ nuôi gà tại ấp An Hòa, xã Bình Ninh, huyện Tam Bình. Toàn bộ đàn gà 1.100 con mắc bệnh đã bị tiêu hủy vào ngày 05/5/2019. Ngày 12/5/2019, dịch tiếp tục phát sinh tại 01 hộ nuôi gà tại ấp Tân An, xã Tân Hạnh thuộc huyện Long Hồ làm cho 1.200 con mắc bệnh, chết 540 con. Toàn bộ đàn gà 1.990 con đã bị tiêu hủy vào ngày 17/5/2019. Hiện nay, cả nước có 03 ổ dịch CGC A/H5N1 tại tỉnh Hậu Giang (01ổ) và tại tỉnh Vĩnh Long (02 ổ) chưa qua 21 ngày
- Dịch lợn tai xanh:
Tính đến ngày 23/5/2019, cả nước không còn tỉnh nào có dịch Tai xanh xảy ra. – Dịch Lở mồm long móng: Tính đến ngày 23/5/2019, cả nước có 05 ổ dịch tại 1 huyện thuộc tỉnh Đắk Lắk chưa qua 21 ngày. – Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP): Bệnh DTLCP đang xảy ra tại 2.902 xã, 263 huyện của 40 tỉnh, thành phố1 ; tổng số lợn bị bệnh buộc phải tiêu hủy là 1.709.993 con, chiếm 6,1% tổng đàn. Ngoài ra, đã có 78 xã thuộc 47 huyện của 21 tỉnh, thành phố đã qua 30 ngày không phát sinh thêm lợn mắc bệnh; thời gian qua, đã có 31 xã thuộc 12 tỉnh có dịch bệnh đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh lợn bệnh.
 THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI
Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 5 năm 2019 ước đạt 58 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2019 ước đạt 255 triệu USD, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2018. Bốn tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt 7,5 triệu USD, giảm 18,2% so với cùng kỳ năm 2018; Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ lợn đạt gần 24,8 triệu USD, tăng 78,6% so với cùng kỳ năm 2018.
Giá lợn hơi giao tháng 6/2019 thị trường Chicago, Mỹ biến động giảm trong tháng qua với mức giảm 3,35 UScent/lb xuống còn 89,425 UScent/lb.
Giá lợn hơi giảm do nguồn cung dồi dào trên thị trường thế giới. Trong tháng 5/2019, giá lợn hơi trong nước giảm do dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp. Tại miền Bắc, giá lợn hơi tại Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Bình, Yên Bái, Lào Cai đồng loạt giảm 6.000 – 7.000 đ/kg so với tháng trước: tại Phú Thọ và Tuyên Quang xuống 29.000 đ/kg; Thái Bình giảm 3.000 đ/kg xuống còn 31.000 đ/kg và Yên Bái, Lào Cai xuống 32.000 đ/kg. Các địa phương còn lại như Hưng Yên, Hà Nội, Thái Nguyên, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Nam Định dao động trong khoảng 28.000 – 31.000 đ/kg, giảm 5.000 đ/kg. Tại miền Trung, Tây Nguyên giá lợn hơi cũng giảm. Giá lợn hơi tại Quảng Bình, Thừa Thiên Huế giảm 11.000 đ/kg xuống 29.000 đ/kg. Đắk Lắk cũng giảm 10.000 đ/kg xuống 32.000 đ/kg. Tại Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Bình Định lợn hơi được thu mua trong khoảng 28.000 – 31.000 đ/kg, giảm 9.000 – 10.000 đ/kg. Từ Quảng Nam trở vào tới Bình Thuận, giá đạt mức 37.000 – 39.000 đ/kg, giảm 3.000 – 5.000 đ/kg. Khu vực Tây Nguyên, giá khoảng 32.000 đ/kg, giảm 8.000 – 10.000 đ/kg. Tại khu vực miền Nam như Sóc Trăng, Cà Mau giá lợn giảm 9.000 – 11.000 đ/kg xuống 35.000 đ/kg. Đồng Nai, giá dao động ở mức 35.000 – 40.000 đ/kg; Bình Phước, Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre … đạt 31.000 – 34.000 đ/kg, giảm 13.000 – 15.000 đ/kg. Các địa phương khác, giá lợn hơi khoảng 35.000 – 37.000 đ/kg. Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU 
Thức ăn gia súc và nguyên liệu:
Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 5/2019 đạt 353 triệu USD, tăng 28,47% so với tháng trước đó và tăng 3,92% so với cùng tháng năm ngoái.
Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 5/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Brazil và Trung Quốc… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 154 triệu USD, tăng 69,02% so với tháng trước đó và tăng 64,24% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 571 triệu USD, chiếm 35,4% thị phần.
Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 5/2019 đạt hơn 42 triệu USD, giảm 22,73% so với tháng 4/2019 và giảm 25,34% so với tháng 5/2018. Tính chung, trong 5 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt  hơn 290 triệu USD, tăng 14,61% so với cùng kỳ năm 2018.
Đứng thứ ba là Brazil với kim ngạch nhập khẩu hơn 27 triệu USD, tăng 444% so với tháng 4/2019 nhưng giảm 63,58% so với tháng 5/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 114 triệu USD, giảm 38,46% so với cùng kỳ năm 2018.
Tính chung, trong 5 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 1,6 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 0,28% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Australia với 14,9 triệu USD, tăng 152,91% so với cùng kỳ năm 2018, Canada với 21,8 triệu USD, tăng 140,68% so với cùng kỳ năm 2018, Tây Ban Nha với hơn 5 triệu USD, tăng 45,94% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Chile với hơn 4,6 triệu USD, tăng 42,86% so với cùng kỳ.
Nhập khẩu TĂCN & NL 5 tháng đầu năm 2019 theo thị trường
ĐVT: nghìn USD
Thị trườngT5/2019+/- So vớiT5/2018 (%)5T/2019+/- So với 5T/2018 (%)
Tổng KN353.45428,51.614.0790,3
Argentina154.35969,0571.539-1,2
Ấn Độ13.673-22,286.914-0,1
Anh119-33,7478-22,5
Áo41150,51.475-51,3
Bỉ533-51,24.964-67,8
Brazil27.926444114.371-38,5
UAE3.334247,010.349-65
Canada6.150-2,921.803140,7
Chile8025,34.68842,9
Đài Loan (TQ)8.30465,028.067-19,4
Đức687-23,44.3174,8
Hà Lan1.40850,17.9102,8
Hàn Quốc5.03427,620.6614,5
Mỹ42.190-22,7290.84014,6
Indonesia3.448-35,929.828-29,6
Italia3.437-3,823.71810,8
Malaysia3.60080,212.454-8,7
Mexico79-68,31.049-50,9
Nhật Bản206-0,81.002-14,8
Australia3.214-2,214.989152,9
Pháp2.66129,914.2139,2
Philippin1.80050,77.6754,0
Singapore1.5198,87.1624,2
Tây Ban Nha68660,25.07445,9
Thái Lan13.63850,252.15819,4
Trung Quốc17.02422,379.741-11,3
Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ
Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 5 tháng đầu năm 2019.
Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 5 tháng đầu năm 2019
Mặt hàng
5T/2019+/- So với 5T/2018
Lượng (nghìn tấn)Trị giá (nghìn USD)Lượng (%)Trị giá (%)
Lúa mì1.045294.517-58-49,7
Ngô4.112862.5860,56,3
Đậu tương769304.9657-2,5
Dầu mỡ động thực vật270.974-5,4
Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ
Lúa mì: 
Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 5/2019 đạt 293 nghìn tấn với kim ngạch đạt 82 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,045 triệu tấn, với trị giá hơn 294 triệu USD, giảm 58% về khối lượng và giảm 49,73% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong  5 tháng đầu năm 2019 là Australia chiếm 46% thị phần; Nga chiếm 17%, Canada chiếm 11%, Brazil chiếm 8% và Mỹ chiếm không đáng kể 3%.
Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Nga, Mỹ, Australia và Canada. Trong 5 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Nga giảm 86,38% về lượng và giảm mạnh 83,24% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Mỹ giảm 70,6% về lượng và giảm 71,46% về trị giá so với cùng kỳ. Canada giảm 32,94% về lượng và giảm 31,93% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Australia giảm 17,73% về lượng và giảm 7,89% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Duy nhất chỉ có Brazil tăng mạnh 10,98% về lượng và 41,36% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Đậu tương: 
Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 5/2019 đạt 179 nghìn tấn với trị giá hơn 72 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 769 nghìn tấn và 304 triệu USD, tăng 6,96% về khối lượng song giảm 2,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Ngô: 
Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 5/2019  đạt hơn 1,147 triệu tấn với trị giá đạt 235 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 4 triệu tấn, trị giá hơn 862 triệu USD, tăng  0,51% về khối lượng và tăng 6,29% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 56% và 41% thị phần. Tuy nhiên, trong 5 tháng đầu năm 2019 nhập khẩu ngô từ thị trường Argentina giảm mạnh 11,86% về lượng và 6,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Sữa và sản phẩm từ sữa NK
Sau khi giảm hai tháng liên tiếp, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm đã tăng trở lại, tăng 8,2% so với tháng 4/2019 đạt 96,95 triệu USD trong tháng 5/2019.
Nâng kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm 5 tháng năm 2019 lên 444,56 triệu USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ.
Việt Nam nhập khẩu sữa và sản phẩm chủ yếu từ New Zealand, các nước Đông Nam Á và EU, tỷ trọng từ các thị trường này chiếm lần lượt 30,54%; 22,88% và 16,61%. So sánh với cùng kỳ năm trước, thì trong 5 tháng đầu năm nay thì kim ngạch nhập từ New Zedaland lại sụt giảm 10,15%, tăng 4,85% các nước Đông Nam Á và sụt gairm 3,67% ở thị trường EU.
Ngoài ba thị trường chủ lực kể trên, Việt Nam còn nhập khẩu từ các thị trước khác nữa như Singapore, Mỹ, Thái Lan, Đức….
Trong số những thị trường cung cấp sữa cho Việt Nam thì New Zealand đạt kim ngạch cao hơn cả, 135,78 triệu USD, giảm 10,15% so với cùng kỳ năm trước, riêng tháng 5/2019 Việt Nam cũng đã nhập từ New Zealand 20,54 triệu USD, tăng 3,85% so với tháng 4/2019 nhưng giảm 5,36% so với tháng 5/2018.
Đứng thứ hai về kim ngạch là thị trường Mỹ 57 triệu USD, tăng 15,81% so với cùng kỳ, trong đó tháng 5/2019 đã nhập từ Mỹ 17,32 triệu USD, giảm 16,77% so với tháng 4/2019 nhưng tăng 44,66% so với tháng 5/2018.
Kế đến là các thị trường Singapore, Australia, Thái Lan, Đức, Pháp….
Nhìn chung, 5 tháng đầu năm 2109, kim ngạch nhập khẩu từ các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, số thị trường này chiếm 64,7%, trong đó Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu từ Bỉ, tuy chỉ đạt trên 2 triệu USD, chiếm 0,46% tỷ trọng nhưng so với cùng kỳ tăng 60,79%, riêng tháng 5/2019 cũng đã nhập từ Bỉ 627,5 nghìn USD, tăng 24,28% so với tháng 4/2019 và tăng 12,99% so với tháng 5/2018.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tăng mạnh nhập từ thị trường Philippines và Pháp, tăng tương ứng 36,44% và 33,46% tương ứng với 2,73 triệu USD và 18,51 triệu USD.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập từ thị trường Đức, giảm 27,18% chỉ với 19,15 triệu USD.
Thị trường cung cấp sữa và sản phẩm sữa 5 tháng năm 2019
Thị trườngT5/2019 (USD)+/- so với tháng 4/2019*5T/2019 (USD)+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*
New Zealand20.541.6273,85135.780.216-10,15
Mỹ17.321.405-16,7757.023.87415,81
Singapore16.486.254108,2856.944.7414,23
Australia2.713.402-40,1124.593.891128
Thái Lan2.592.167-59,6724.106.864-5,53
Đức4.123.28514,7519.154.220-27,18
Pháp4.492.5654,218.514.76833,46
Nhật Bản5.456.09441,7618.015.73551,94
Malaysia4.708.6481,7717.955.28120,7
Hà Lan3.667.98028,914.848.874-5,52
Ireland1.525.091105.577.104-17,18
Ba Lan2.690.17514,556.562.506-5,44
Bỉ627.54424,282.057.45760,79
Đan Mạch340.56848,36844.06448,2
Philippines492.626-41,292.730.20836,44
Hàn Quốc1.112.36994,865.290.73115,89
Tây Ban Nha1.122.579334,276.306.12219,8
Thụy Sỹ1.635.29137,296.166.125
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Sau khi tăng trưởng hai tháng liên tiếp (tháng 3, 4), kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu trong tháng 5/2019 đã giảm trở lại, giảm 2% so với tháng 4/2019, tương ứng với 61 triệu USD.
Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 5/2019 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 263,83 triệu USD, giảm 10,4% so với cùng kỳ năm 2018.
Đông Nam Á là thị trường xuất khẩu chủ lực nhóm hàng này của Việt Nam, chiếm 35% tỷ trọng đạt 92,36 triệu USD, tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước, riêng tháng 5/2019 tăng 6,69% so với tháng 4/2019 và tăng 5,01% so với tháng 5/2018 đạt trên 20 triệu USD.
Trong số những thị trường nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ Việt Nam, thì Trung Quốc với vị trí và khoảng cách địa lý không xa với Việt Nam, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, thị trường này đạt kim ngạch cao nhất 69,91 triệu USD, tuy nhiên so với cùng kỳ tốc độ sụt giảm 22,32%, tính riêng tháng 5/2019 xuất khẩu sang thị trường này cũng giảm 34,69% so với tháng 4/2019 và giảm 48,58% so với tháng 5/2018 tương ứng với 14,72 triệu USD.
Kế đến là các thị trường Campuchia, Ấn Độ. Theo đó, xuất sang Campuchia tăng 8,3% đạt 38,77 triệu USD, riêng tháng 5/2019 xuất sang thị trường này giảm 0,3% chỉ có 7,51 triệu USD so với tháng 4/2019. Xuất sang Ấn Độ giảm 21,73% tương ứng 29,28 triệu USD, tuy nhiên kim ngạch trong tháng 5/2019 tăng 50,34% so với tháng 4/2019 đạt 9,88 triệu USD.
Ngoài ra, Việt Nam còn xuất sang các thị trường khác như Mỹ, Singapre, Hàn Quốc….
Nhìn chung, 5 tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sang các thị trường hầu hết đều sụt giảm, số thị trường này chiếm 61,3%, trong đó xuất sang thị trường Hàn Quốc giảm nhiều nhất 41,49% so với cùng kỳ, tương ứng với 7,68 triệu USD, riêng tháng 5/2019 cũng đã xuất sang Hàn QUốc 1,44 triệu USD giảm 44,45% so với tháng 4/2019 và giảm 8,1% so với tháng 5/2018.
Ở chiều ngược lại, Bangladesh tăng mạnh nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ Việt Nam, tăng 42,72% so với cùng kỳ, tuy chỉ đạt 6,75 triệu USD, riêng tháng 5/2019 đạt kim ngạch 2,35 triệu USD, tăng gấp 2 lần so với tháng 4/2019 và gấp 3,5 lần (tương ứng 254,64%) so với tháng 5/2018.
Thị trường xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu 5 tháng năm 2019
Thị trườngT5/2019 (USD)+/- so với T4/2019 (%)*5T/2019 (USD)+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*
Trung Quốc14.726.254-34,6969.913.715-22,32
Campuchia7.517.730-0,338.770.4418,3
Ấn Độ9.881.98750,3429.285.810-21,73
Malaysia7.324.06834,0928.538.4849,84
Nhật Bản2.212.4100,0516.239.71534,63
Mỹ2.432.655-15,6712.385.408-29,68
Thái Lan2.472.0831311.494.896-20,74
Đài Loan2.873.27548,7510.156.912-11,31
Philippines1.829.753-2,477.968.70712,96
Hàn Quốc1.446.189-44,457.686.262-41,49
Bangladesh2.358.1531006.751.45042,72
Indonesia665.947-56,144.425.456-8,95
Singapore249.87014,771.167.921-9,98
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)

Theo: channuoivietnam.com

NHẬN XÉT

Tên

Animal Husbandry,148,Announcement,1,Art,12,ASF,1,Blog,1,Blogger,3,Book,2,Business,114,CafeKN,2,Career,1,Chicken,6,Chinese,3,Doanh Nghiệp,1,Dog,1,Duck,4,Email,1,English,3,F&B,3,Fish,48,Fun,1,Game,1,GOCOVINA,1,Gym,8,Health,1,HOT,13,HR,1,Japanese,1,Job,1,Learn,6,LGBT,8,Life,539,Love,21,Man,12,Man Style,1,Market,9,MEATLife,1,Michelle,1,MML,1,Movie,20,Music,2,Pig,7,Shrimp,83,StartUp,4,Suất Ăn Công Nghiệp,1,Technology,8,Trà Vinh,1,Travel,74,Video,21,
ltr
item
DNTG.VN - Mỗi Năm Học Một Điều Mới: Tình hình thị trường chăn nuôi Việt Nam tháng 05-2019
Tình hình thị trường chăn nuôi Việt Nam tháng 05-2019
Theo tổng hợp báo cáo của Bộ NN&PTNT chăn nuôi trâu, bò trong tháng không có biến động lớn. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số trâu của cả nước tháng 5/2019 giảm 3,2%; tổng số bò tăng 2,9% so với cùng thời điểm năm 2018. Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn đang trong thời kỳ gặp rất nhiều khó khăn do bệnh dịch tả lợn châu Phi có chiều hướng lây lan trên diện rộng.
https://1.bp.blogspot.com/-Rr5ZDWOJtsw/XRMmsMUKtfI/AAAAAAABsbI/KrSaDfQu8aIsHk83rB8-vqV_5Dzw1RzVwCLcBGAs/s640/KH.-Chan-nuoi-Viet-Nam-5.jpg
https://1.bp.blogspot.com/-Rr5ZDWOJtsw/XRMmsMUKtfI/AAAAAAABsbI/KrSaDfQu8aIsHk83rB8-vqV_5Dzw1RzVwCLcBGAs/s72-c/KH.-Chan-nuoi-Viet-Nam-5.jpg
DNTG.VN - Mỗi Năm Học Một Điều Mới
https://www.dntg.vn/2019/06/tinh-hinh-thi-truong-chan-nuoi-viet-nam-thang-5-2019.html
https://www.dntg.vn/
https://www.dntg.vn/
https://www.dntg.vn/2019/06/tinh-hinh-thi-truong-chan-nuoi-viet-nam-thang-5-2019.html
true
2647454659241784721
UTF-8
Tải toàn bộ bài viết Không tìm thấy bài viết bạn yêu cầu! XEM TẤT CẢ Xem đầy đủ Nhận xét Hủy nhận xét Xóa Bởi Trang Chủ TRANG BÀI VIẾT Xem tất cả DÀNH RIÊNG CHO BẠN Chuyên mục LƯU TRỮ SEARCH TẤT CẢ BÀI VIẾT Không tìm thấy bài viết phù hợp với yêu cầu của bạn. Quay về Trang Chủ Chủ Nhật Thứ Hai Thứ Ba Thứ Tư Thứ Năm Thứ Sáu Thứ Bảy Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec ngay bây giờ 1 phút trước $$1$$ minutes ago 1 giờ trước $$1$$ hours ago Hôm qua $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago hơn 5 tuần trước Người theo dõi Theo dõi NỘI DUNG VIP NÀY ĐÃ TẠM KHÓA Bước 1: Chia sẻ bài viết này lên các mạng xã hội của bạn Bước 2: Nhấn vào liên kết trên trang bạn đã chia sẻ Sao chép toàn bộ code Chọn toàn bộ code Toàn bộ code đã sao chép vào khay nhớ tạm của bạn Không thể sao chép code/văn bản, vui lòng nhấn [CTRL]+[C] (hoặc CMD+C cho Mac) để sao chép,