[Blog] Tìm hiểu về bệnh u nhầy ở tim - phần 2 - đặc điểm lâm sàng và giải phẫu


Xin trích dẫn một tài liệu từ THS-BS. NGUYỄN VĂN MÃO với đề tài NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ GIẢI PHẪU BỆNH U NHẦY TRONG TIM TẠI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2010. 
Dưới dây là một số thông tin, xin vui lòng xem bản đầy đủ ở tệp đính kèm bên dưới

Về đặc điểm lâm sàng

Các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi nói chung là đến muộn với độ tuổi trung bình khá cao (44,17 tuổi) nên biểu hiện khá đầy đủ các triệu chứng lâm sàng của u nhầy nhĩ trái. Đó là các triệu chứng toàn thân, triệu chứng tắc mạch và triệu chứng tại tim. Trong số 65 bệnh nhân, chủ yếu có triệu chứng khó thở (68,4%), triệu chứng sốt kéo dài,dai dẳng có 12,3 % bệnh nhân, triệu chứng đau mỏi khớp chiếm 14%, cơ chế sinh bệnh học này có thể giải thích do phản ứng kháng nguyên kháng thể của yếu tố u gây nên.
Triệu chứng hồi hộp trống ngực là chủ yếu với 52,6% bệnh nhân, tiếng rung tâm trương chiếm 78,9 % bệnh nhân Kết quả này cũng phù hợp với các tác giả trên thế giới và trong nước.

Các triệu chứng lâm sàng thường gặp ở nghiên cứu của Fisher và CS là: khó thở khi gắng sức (> 70%), ngất (20%), ho ra máu khoảng (15%), khó thở phải ngồi (25%), đột tử (15%), bệnh nhân thường có sốt nhẹ, có nhức ở khớp lớn, cảm giác mệt mỏi và giảm cân không rõ nguyên nhân. Khi nghe tim 70% có tiếng rung tâm trương ở mỏm, âm thổi tâm thu 50%. Rung nhĩ gặp ở 15% các trường hợp và có tăng áp lực mạch phổi (70%). Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Mão và cộng sự năm 2008 khi nghiên cứu 22 bệnh nhân u nhầy nhĩ trái: có 68,4 % bệnh nhân khó thở, 57,9 % hồi hộp đánh trống ngực và 73,4 % rung tâm trương.
Triệu chứng tắc mạch xuất hiện khi các mảnh u di chuyển đến nơi khác, có thể tắc mạch não hoặc chi. Khi u nhầy di chuyển qua lỗ van hai lá gây triệu chứng giống bệnh hẹp van hai lá. Lâm sàng là biểu hiện từng đợt gây ngất hoặc nặng hơn là tai biến mạch não. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 10,8% bệnh nhân biểu hiện tắc mạch não, trong tiền sử có những lần 31 tai biến mạch máu não. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của tác giả Fisher và CS, của Phan Kim Phương () hay của Nguyễn Văn Mão (). Một số tác giả còn gặp bệnh nhân tắc mạch vành hoặc mạch tạng. Chúng tôi chưa gặp trường hợp nào. Có thể trong tương lai với nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn hơn chúng tôi sẽ gặp được những bệnh nhân này.

Về đặc điểm giải phẫu bệnh

Đặc điểm đại thể

- Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số là các bệnh nhân u nhầy lành tính với các hình dạng đại thể như quả lê, nắm tay.
- Có 7 bệnh nhân có vị trí thắt giữa u giống hình quả tạ. Đây là đặc điểm giải phẫu khá quan trọng cho thấy khối u bị biến đổi hình dạng khi di chuyển qua van hai lá. Điều này có thể gây ra choáng ngất hoặc đột tử cho bệnh nhân. Kết quả này cũng phù hợp với một số tác giả khác như: Gabriel S. Aldea MD(6). Murphy, MC(7).
- Kích thước khối u lớn nhất chúng tôi gặp là 9 x6cm, nhỏ nhất: 2 x1,5cm. Kết quả này cũng phù hợp với các tác giả Phan Kim Phương, Đặng Thị Bạch Yến. Với đặc điểm bệnh nhân lớn tuổi đến muộn nên việc có bệnh nhân khối u lớn như vậy cũng là điều dễ hiểu. Và đồng nghĩa với nguy cơ tai biến cho bệnh nhân tăng tỷ lệ thuận với kích thước u. Thực tế trong nghiên cứu của chúng tôi thì bệnh nhân có khối u lớn nhất là bệnh nhân 58 tuổi, đến viện với tình trạng suy tim, NYHA III và trong tiền sử đã có một lần tai biến mạch máu não, di chứng liệt nửa người phải.
- Vị trí khối u trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu ở nhĩ trái, chiếm 87,7 %. Kết quả này phù hợp với hầu hết các tác giả trên thế giới và Việt Nam. Các trường hợp nằm ở vị trí khác như nhĩ phải và tâm thất thì hiếm và thường có xu hướng ác tính.

Đặc điểm vi thể

- Phần lớn các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là u nhầy lành tính, với 57 bệnh nhân, chiếm 87,7% . Kết quả này cũng phù hợp với các tác giả khác.
- Chúng tôi gặp 7 bệnh nhân Sarcoma với 3 bệnh nhân ở nhĩ trái, 1 trường hợp ở nhĩ phải , 1 trường hợp ở thất phải, 2 trường hợp ở thất phải. Tiên lượng sau mổ kém và có 5/7 bệnh nhân đã tử vong sau 4 tháng, 8 tháng và 1 năm. Theo nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới thì tỷ lệ u ác tính cũng rất ít và phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi.
Có một trường hợp rất hiếm gặp là 1 trường u xơ cơ trong nghiên cứu của chúng tôi. Đây là một khối u lành tính tuy nhiên bản chất mô bệnh học là một khối u xơ cơ trong tim thì y văn thế giới rất hiếm tài liệu ghi nhận và ở Việt Nam thì chưa từng có báo cáo nào tương tự.

Kết luận

U nhầy chủ yếu là ở nhĩ trái, thường có các triệu chứng trên lâm sàng như khó thở, ngất, hồi hộp đánh trống ngực, khi nghe tim có tiếng rung tâm trương mà thay đổi theo tư thế thì phải kiểm tra bằng siêu âm. Siêu âm đủ để chẩn đoán và chỉ định mổ cũng như theo dõi kết quả sau mổ mà không cần chụp buồng tim hay các thăm dò khác như chụp cộng hưởng từ hay chụp cắt lớp ( trừ những trường hợp nghi có ung thư hoá).
Giải phẫu bệnh khối u thường là lành tính, tuy nhiên chúng tôi cũng gặp 7 trường hợp ác tính và kết quả sau mổ thường không tốt.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị duy nhất và phải mổ càng sớm càng tốt ngay sau khi có chẩn đoán. Tuỳ thuộc vào vị trí bám của cuống u, kích thước của khối u mà chọn đường mở tim thích hợp.
Kết quả lâu dài sau mổ tốt. Tỷ lệ tái phát thấp, bệnh nhân tái hoà nhập bình thường với xã hội.
Chúng tôi mong rằng trong tương lai tiếp tục có những nghiên cứu sâu hơn trên cỡ mẫu lớn hơn để có thể thu được những kết quả nghiên cứu giá trị góp phần điều trị hiệu quả hơn.

File đính kèm


Health
Giang Dang
18/06/2020
0

Nhận xét